Thực trạng phụ nữ khởi nghiệp gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại tỉnh Lạng Sơn – Thực trạng, thách thức và giải pháp giai đoạn 2026–2030
Trần Thế Kiên - Chuyên gia Khởi nghiệp Quốc gia
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, các nhà khoa học, các quý đại biểu!
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Tổ chức đã tạo điều kiện để tôi được chia sẻ một số ý kiến từ thực tiễn triển khai hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số đang trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng như Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng với định hướng phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW. Đây là cơ hội rất lớn để phụ nữ khởi nghiệp chuyển từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình kinh doanh dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

I. THỰC TRẠNG PHỤ NỮ KHỞI NGHIỆP TẠI LẠNG SƠN
Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới với hơn 80% diện tích là đồi núi; phụ nữ dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động. Trong những năm gần đây, phong trào phụ nữ khởi nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực.
Có thể nhận thấy năm xu hướng nổi bật.
1.Phụ nữ khởi nghiệp ngày càng nhiều
Đối tượng khởi nghiệp hiện nay không còn chỉ tập trung ở khu vực trung tâm thành phố mà đã lan tỏa đến hầu hết các địa phương trong tỉnh. Nhiều phụ nữ đã mạnh dạn thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ kinh doanh, từng bước xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Có thể kể đến một số mô hình tiêu biểu:
Các mô hình khởi nghiệp của phụ nữ tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực:
Thực tiễn trên cho thấy phong trào phụ nữ khởi nghiệp tại Lạng Sơn đang phát triển theo hướng khai thác lợi thế bản địa, nâng cao giá trị sản phẩm đặc sản và từng bước ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh trong giai đoạn tới.
2. Khoa học công nghệ đã bắt đầu được ứng dụng
So với 5 năm trước, phụ nữ khởi nghiệp đã biết sử dụng:Facebook , Zalo ,TikTok , Livestream , Sàn thương mại điện tử , Thanh toán điện tử , Mã QR , Tem truy xuất nguồn gốc.
Nhiều cơ sở sản xuất OCOP đã áp dụng: đóng gói hiện đại , thiết kế bao bì , quản lý bán hàng , marketing số.
Đây là tín hiệu tích cực.
3. Tuy nhiên mức độ ứng dụng công nghệ vẫn còn thấp
Qua thực tế tư vấn khởi nghiệp tại địa phương, tôi cho rằng khoảng trên 70% phụ nữ khởi nghiệp vẫn đang ở mức:
"Sử dụng công nghệ để bán hàng" chứ chưa phả ", “Khởi nghiệp dựa trên công nghệ".
Điều này thể hiện ở các điểm: chưa ứng dụng AI, chưa quản trị số, chưa phân tích dữ liệu khách hàng , chưa xây dựng thương hiệu số, chưa tự động hóa sản xuất chưa áp dụng quảnt lý tự động như tưới tiêu kiểm tra …., chưa có nghiên cứu phát triển sản phẩm mới nhiều
4. Đổi mới sáng tạo còn mang tính cải tiến nhỏ
Phần lớn sản phẩm vẫn là Chủ Lục : na . hồi , quế , thạch đen , vịt quay , mật ong , dược liệu, 1 chút thực phẩm
Nhưng mới cải tiến: bao bì, nhãn mác, mẫu mã.
Ít sản phẩm có: công nghệ chế biến sâu, Công nghệ bảo quản , sở hữu trí tuệ , bằng sáng chế Có chị Thương , công nghệ độc quyền.
Do đó giá trị gia tăng chưa cao.
5. Hệ sinh thái hỗ trợ đang hình thành nhưng chưa đồng bộ
Lạng Sơn đã có: các chương trình hỗ trợ của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Sở Khoa học và Công nghệ ,Sở Công Thương, Trung tâm Khuyến công, Liên minh HTX các chương trình OCOP.
Tuy nhiên các nguồn lực còn phân tán. Thiếu đầu mối điều phối chung cho hệ sinh thái khởi nghiệp phụ nữ.
II. NHỮNG RÀO CẢN LỚN
Theo tôi, hiện nay có 6 nhóm rào cản.
Thứ nhất. Thiếu tư duy kinh doanh hiện đại: Nhiều phụ nữ vẫn sản xuất theo kinh nghiệm.
Ít người xây dựng: mô hình kinh doanh, chiến lược, kế hoạch tài chính, quản trị rủi ro.
Thứ hai. Hạn chế về công nghệ: Nhiều người biết dùng điện thoại.
Nhưng chưa biết sử dụng: AI , Chát GDP, Gimnai , Canva. Các phần mềm khác
Thứ ba. Khó tiếp cận vốn: Đây vẫn là khó khăn lớn nhất.
Đặc biệt đối với: doanh nghiệp siêu nhỏ, HTX, hộ kinh doanh.
Thiếu tài sản bảo đảm khiến khả năng vay vốn hạn chế.
Thứ tư. Thiếu nhân lực chất lượng Đội ngũ lao động có kỹ năng số còn ít. Đặc biệt ở vùng sâu vùng xa. Tựu bảo nhau làm
Thứ năm. Thiếu liên kết thị trường:Nhiều sản phẩm tốt. Nhưng chưa có: thương hiệu, chuỗi phân phối , thương mại điện tử chuyên nghiệp, xuất khẩu.
Thứ sáu. Thiếu chuyên gia đồng hành: Sau các lớp tập huấn, nhiều dự án không có cố vấn dài hạn.
Đây là khoảng trống lớn của hệ sinh thái.
Dẫn đến các DN, HTX nhỏ có thể có những sai sót về sản phẩm, thạm trí sở hữu trí tuệ…..
III. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ SẴN SÀNG CHUYỂN ĐỔI SỐ
Theo góc nhìn thực tiễn, tôi đánh giá:
| Tiêu chí | Mức độ |
| Nhận thức chuyển đổi số | Khá |
| Sử dụng mạng xã hội | Tốt |
| Thương mại điện tử | Trung bình |
| Quản trị doanh nghiệp số | Thấp |
| AI trong kinh doanh | Rất thấp( viết bài, hỏi…. |
| Đổi mới công nghệ sản xuất | Thấp |
| Nghiên cứu phát triển sản phẩm | Thấp |
Điều đó cho thấy khoảng cách giữa nhận thức và năng lực ứng dụng vẫn còn khá lớn.
IV. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIAI ĐOẠN 2026–2030
Theo tôi cần triển khai đồng bộ 6 nhóm giải pháp.
1. Hoàn thiện chính sách: Kiến nghị xây dựng:
- Chương trình hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp công nghệ vùng trung du miền núi.
- Quỹ đổi mới sáng tạo dành cho phụ nữ.
- Chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nữ ứng dụng công nghệ.
2. Phát triển nguồn vốn
Đề nghị: 1. Quỹ bảo lãnh tín dụng. 2. Quỹ đầu tư thiên thần địa phương. 3.Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. 4. vốn ưu đãi cho doanh nghiệp xanh. Ngoài ngân hàng chính sách…
3. Đào tạo nhân lực số
Chuyển từ đào tạo lý thuyết sang đào tạo thực hành.
Ưu tiên: AI, Marketing số, Thương mại điện tử, Quản trị số, Phân tích dữ liệu, Kỹ năng gọi vốn.
4. Xây dựng mạng lưới cố vấn
Mỗi dự án khởi nghiệp cần có: 1. doanh nhân kèm cặp, 2. chuyên gia công nghệ, 3.chuyên gia tài chính, 4. chuyên gia marketing …..
đồng hành tối thiểu 12 tháng.
5. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Hỗ trợ: 1. đăng ký sở hữu trí tuệ, 2. tiêu chuẩn chất lượng, 3. công nghệ chế biến, 4. công nghệ bảo quản , 5. xây dựng thương hiệu, 6. nghiên cứu phát triển sản phẩm.
6. Xây dựng hệ sinh thái số
Kết nối: 1. doanh nghiệp, 2. trường đại học, 3. viện nghiên cứu, 4. ngân hàng, 5. quỹ đầu tư, 6. chuyên gia,7, nền tảng số
thành một hệ sinh thái thống nhất.
V. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đề nghị Trung ương: 1. Có chương trình quốc gia riêng cho phụ nữ khởi nghiệp công nghệ vùng trung du và miền núi phía Bắc. 2. Tăng ngân sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo. 3. Hình thành mạng lưới cố vấn quốc gia.
Đề nghị các địa phương:
Đề nghị Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp:
Với hội liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam
KẾT LUẬN
Khởi nghiệp của phụ nữ vùng trung du và miền núi phía Bắc đang đứng trước cơ hội lớn từ chuyển đổi số và khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành động lực phát triển bền vững cần chuyển từ tư duy "hỗ trợ khởi nghiệp" sang "kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo", lấy phụ nữ làm trung tâm của quá trình chuyển đổi.
Đối với Lạng Sơn, lợi thế về kinh tế cửa khẩu, nông nghiệp đặc sản, dược liệu, du lịch sinh thái và thương mại biên giới nếu được kết hợp với công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và đổi mới sáng tạo sẽ mở ra một không gian phát triển mới. Mục tiêu đến năm 2030 không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, mà quan trọng hơn là hình thành đội ngũ nữ doanh nhân có năng lực công nghệ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng xanh, kinh tế số và phát triển bền vững của địa phương.
Chân trọng cám ơn
